Tin tức & Insights

Kinh tế tuần hoàn, EPR, & rác điện tử tại Việt Nam Cơ hội vào thị trường cho doanh nghiệp Nhật Bản nằm ở đâu?

1. Tóm tắt cơ hội đầu tư

Cơ hội nổi bật nhất của thị trường kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam hiện nay không nằm ở việc đi vào xử lý rác đại trà, mà nằm ở các lớp hạ tầng giá trị cao bám quanh giai đoạn thực thi EPR (trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất): công nghệ tái chế bao bì nhựa khó tái chế, nền tảng dữ liệu - truy xuất - tính phí EPR, và xử lý rác điện tử chính quy gắn với các cụm điện tử - bán dẫn. Nói cách khác, Việt Nam đã có khung pháp lý, có áp lực tuân thủ và có dòng chất thải ngày càng lớn; phần còn thiếu lại chính là công nghệ và năng lực vận hành chuẩn cao mà doanh nghiệp Nhật có thể tham gia ngay (Baker McKenzie, 2022; ERIA, 2023; Vietnam Law Magazine, 2025).

Điểm đáng chú ý là đây không còn là câu chuyện thử nghiệm nhỏ. Nghị định 08/2022/NĐ-CP và Thông tư 02/2022/TT-BTNMT đã đưa EPR vào vận hành từ năm 2022; PRO Vietnam đã được công nhận và cam kết thu gom, tái chế 64.000 tấn bao bì trong năm 2024. Trong khi đó, Việt Nam tiêu thụ khoảng 3,9 triệu tấn nhựa thông dụng nhưng chỉ 33% được tái chế, làm thất thoát 2,2 - 2,9 tỷ USD giá trị vật liệu mỗi năm; rác điện tử cũng tăng nhanh lên 516 nghìn tấn vào năm 2022 (IFC & World Bank, 2021; PRO Vietnam, 2024; UNCRD, 2022).

Tín hiệu phía cầu cũng đã khá rõ. Các khảo sát của JBIC cho thấy hơn 60% doanh nghiệp sản xuất Nhật đã triển khai sáng kiến bền vững ở nước ngoài và khoảng 75% coi giảm phát thải là ưu tiên lớn. Với doanh nghiệp Nhật Bản, đây là giai đoạn phù hợp để vào thị trường bằng dự án thử nghiệm (pilot) hoặc liên doanh chọn lọc, đặc biệt tại hành lang điện tử phía Bắc và vành đai công nghiệp phía Nam, thay vì chờ đến khi tiêu chuẩn và đối tác địa phương đã được định hình hoàn toàn (JBIC, 2025; B&Company, 2024).

Bảng 1. Quy mô nền của thị trường nhựa, EPR và rác điện tử tại Việt Nam

Năm 

Nhựa tiêu thụ 
(tham chiếu, 
triệu tấn) 

Tỷ lệ tái chế 
nhựa 
(%) 

Giá trị thất thoát 
(tỷ USD/ 
năm) 

Rác điện tử 
(nghìn 
tấn) 

Thu gom EPR/ 
PRO Vietnam 
(tấn) 

2021 

3,9 

33 

2,2 - 2,9 

NA 

NA 

2022 

3,9 

33 

2,2 - 2,9 

516 

3.000 

2023 

3,9 

33 

2,2 - 2,9 

NA 

14.000 

2024 

3,9 

33 

2,2 - 2,9 

NA 

64.000 

Nguồn: Tổng hợp từ IFC & World Bank (2021), World Bank (2021), UNCRD (2022), PRO Vietnam/VnEconomy (2024), ERIA (2023).

2. Vì sao thị trường này đáng quan tâm

Thị trường này đáng quan tâm vì ba động lực đang hội tụ cùng lúc.

Thứ nhất là động lực chính sách. Nghị định 08/2022/NĐ-CP và Thông tư 02/2022/TT-BTNMT đã đưa EPR vào vận hành; dự thảo nghị định riêng về EPR đang được xây dựng để hợp nhất các quy định đang phân tán và tăng khả năng giám sát thực thi. Điều đó cho thấy EPR không phải là trào lưu ngắn hạn, mà là trụ cột dài hạn của chính sách môi trường và kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam đến năm 2030 (Baker McKenzie, 2022; Vietnam Law Magazine, 2025; Ministry of Agriculture and Environment, 2025).

Thứ hai là động lực kinh tế tài nguyên. Nghiên cứu của IFC - World Bank cho thấy riêng nhóm nhựa PET, HDPE, LDPE và PP đã làm Việt Nam mất khoảng 75% giá trị vật liệu, tương đương 2,2 - 2,9 tỷ USD mỗi năm, do chưa thu gom và tái chế hiệu quả. Khi EPR buộc doanh nghiệp phải tăng tỷ lệ tái chế, những mô hình giúp kéo vật liệu quay lại chuỗi giá trị sẽ trở nên hấp dẫn hơn rõ rệt (IFC & World Bank, 2021; World Bank, 2021).

Thứ ba là động lực từ phía doanh nghiệp Nhật. Các khảo sát gần đây của JBIC cho thấy doanh nghiệp Nhật đang coi giảm phát thải, tuân thủ ESG và chuyển sang mô hình tuần hoàn là ưu tiên ngày càng rõ trong hoạt động ở nước ngoài. Điều đó khiến những dự án tại Việt Nam vừa giải quyết tuân thủ EPR, vừa tạo giá trị tái chế và dữ liệu môi trường trở nên đặc biệt phù hợp với khẩu vị đầu tư của phía Nhật (JBIC, 2025).

Bảng 2. Nghĩa vụ EPR và mục tiêu kinh tế tuần hoàn đến năm 2030

Chỉ tiêu 

2022 

2024 

2025E 

2030F 

Đơn vị 

Tỷ lệ tái chế bắt buộc 
bao bì 

10 - 22 

10 - 22 

10 - 22 

20 - 32*

% 

Chuẩn thu hồi vật liệu 
tối thiểu 

40 

40 

40 

40 

% 

Thu gom/tái chế của 
PRO Vietnam 

3.000 

64.000 

NA 

NA 

tấn 

Mục tiêu rác nhựa được 
tái sử dụng, tái chế, 
xử lý 

NA 

NA 

NA 

85 

% 

Mục tiêu giảm rác nhựa 
ra biển 

NA 

NA 

NA 

50 

% 

Nguồn: Tổng hợp từ Nghị định 08/2022/NĐ-CP, Thông tư 02/2022/TT-BTNMT, PRO Vietnam / VnEconomy (2024), ERIA (2023), Vietnam Circular Economy Hub (2025). Tỷ lệ 2030 là giá trị tham chiếu.

Bảng 3. Tiến độ chính sách và mức độ sẵn sàng pháp lý của thị trường

Mốc chính sách / thị trường 

Thời điểm 

Nội dung chính 

Trạng thái 

Luật BVMT 2020 

11/2020 

Đặt nền tảng EPR tại Điều 54-55 

Đã ban hành 

Nghị định 08/2022/ 
NĐ-CP 

1/2022 

Quy định chi tiết nghĩa vụ tái chế và thu gom 

Đã có hiệu lực 

Thông tư 02/2022/ 
TT-BTNMT 

1/2022 

Hướng dẫn kỹ thuật và cách thực hiện EPR 

Đã có hiệu lực 

PRO Vietnam được 
công nhận 

2023 

Tổ chức tái chế bao bì đầu tiên được công nhận 

Đã công nhận 

PRO Vietnam cam kết 
64.000 tấn 

2024 

Tăng nhanh quy mô thu gom và tái chế bao bì 

Đã công bố 

Dự thảo nghị định 
riêng về EPR 

2025 

Hợp nhất quy định và tăng giám sát thực thi 

Đang hoàn thiện 

Quyết định 
222/QĐ-TTg 

1/2025 

Phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về KTTH 

Đã ban hành 

Mục tiêu 2030 về 
rác nhựa 

2030 

85% tái sử dụng/tái chế/xử lý; giảm 50% rác nhựa ra biển 

Mục tiêu 

Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường, PRO Vietnam, Vietnam Law Magazine, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Vietnam Circular Economy Hub.

3. Cơ hội thật sự nằm ở đâu trong thị trường Việt Nam

Nếu chỉ nhìn vào xử lý chất thải theo nghĩa truyền thống, nhà đầu tư rất dễ nghĩ đây là thị trường có biên lợi nhuận mỏng. Tuy nhiên, cơ hội thật sự lại nằm ở những "điểm nghẽn" quyết định xem nghĩa vụ EPR có thể biến thành doanh thu hay không. Ba lớp cơ hội hấp dẫn nhất hiện nay là tái chế nhựa khó, hạ tầng số cho EPR và xử lý rác điện tử chính quy gắn với cụm điện tử.

Trong mảng nhựa bao bì, cơ hội chia thành hai lớp. Lớp dễ hơn là tái chế cơ học PET, HDPE với chất lượng cao; lớp khó hơn nhưng ít đối thủ hơn là bao bì nhiều lớp và bao bì dẻo khó tái chế cho thực phẩm, snack, mì ăn liền và mỹ phẩm. Chính ở đây, EPR với yêu cầu tỷ lệ tái chế tối thiểu và tiêu chuẩn thu hồi vật liệu 40% sẽ tạo sức ép buộc chủ sở hữu nhãn hàng phải tìm công nghệ mới, từ phân loại - rửa - tái sinh đến tái chế hóa học (ERIA RKCMPD, n.d.; World Bank, 2021).

Ở mảng hạ tầng số, khi EPR đi vào thực thi, doanh nghiệp sẽ cần hệ thống quản lý dữ liệu sản phẩm - bao bì, tính phí EPR, theo dõi dòng chảy vật liệu và báo cáo cho cơ quan quản lý. Đây là không gian cho các nền tảng tuân thủ EPR, giải pháp truy xuất bằng QR hoặc mã hóa sản phẩm và tích hợp với hệ thống quản trị doanh nghiệp hiện có. Trong bối cảnh dữ liệu EPR ở Việt Nam còn phân tán và thiếu chuẩn, nhà cung cấp có kinh nghiệm quốc tế sẽ có lợi thế.

Với rác điện tử, đà tăng từ 116 nghìn tấn năm 2014 lên 516 nghìn tấn năm 2022, cộng với xuất khẩu điện tử đạt 126,5 tỷ USD năm 2024, cho thấy quy mô dòng rác tương lai là rất lớn. Tuy nhiên, phần lớn hiện vẫn do khu vực phi chính thức xử lý với hiệu suất thu hồi thấp và rủi ro môi trường cao. Cơ hội nằm ở các nhà máy xử lý chính quy đặt gần cụm công nghiệp điện tử, kết hợp công nghệ tháo dỡ, phân loại tinh và thu hồi kim loại quý (UNCRD, 2022; Vietnam News / GSO, 2025).

Bảng 4. Xếp hạng ưu tiên cơ hội đầu tư cho doanh nghiệp Nhật Bản

Ngách đầu tư 

Hấp dẫn 
thị trường 

Dễ vào 

Japan fit

Biên lợi 
nhuận 

Sẵn sàng 
đối tác 

Tổng điểm 

Tái chế hóa học / 
tái chế tiên tiến 
bao bì nhiều lớp 

5 

3 

5 

5 

3 

21/25 

Tái chế cơ học 
PET / HDPE chất lượng cao 

5 

3 

5 

4 

4 

21/25 

Nền tảng tuân thủ EPR 
(dữ liệu, báo cáo, phí) 

4 

4 

5 

4 

4 

21/25 

Thu gom và truy xuất số 
(QR / mã hóa sản phẩm) 

4 

4 

5 

4 

3 

20/25 

Nhà máy rác điện tử 
chính quy gần cụm điện tử 

5 

3 

5 

4 

3 

20/25 

Thu hồi kim loại quý 
từ rác điện tử 

4 

3 

5 

5 

2 

19/25 

Nguồn: Tổng hợp từ World Bank (2021), UNCRD (2022), PRO Vietnam (2024), B&Company (2024) và phân tích nhóm nghiên cứu.

Bảng 5. Các biến số kinh tế nền của mô hình EPR và tái chế tại Việt Nam

Hạng mục 

Giá trị 

Đơn vị 

Ghi chú 

Nhựa thông dụng được tiêu thụ 

3,9 

triệu tấn/năm 

PET, HDPE, LDPE, PP 

Khối lượng nhựa được tái chế 

1,28 

triệu tấn/năm 

Khoảng 33% đầu vào 

Khối lượng nhựa bị thải bỏ 

2,62 

triệu tấn/năm 

Chưa được tái chế hiệu quả 

Giá trị vật liệu thất thoát 

2,2 - 2,9 

tỷ USD/năm 

Khoảng 75% giá trị bị mất 

Rác nhựa phát sinh 

3,1 

triệu tấn/năm 

Quy mô chất thải hằng năm 

Tỷ lệ EPR bao bì giai đoạn đầu 

10 - 22 

% 

Theo từng nhóm vật liệu 

Chuẩn thu hồi vật liệu tối thiểu 

40 

% 

Áp dụng cho quy trình đủ điều kiện 

Rác điện tử phát sinh 

516 

nghìn tấn 

Số liệu 2022 

Xuất khẩu điện tử 

126,5 

tỷ USD 

Số liệu 2024 

Nguồn: IFC & World Bank (2021), World Bank (2021), UNCRD (2022), Vietnam News / GSO (2025), Nghị định 08/2022/NĐ-CP.

4. Vì sao cơ hội này phù hợp với doanh nghiệp Nhật Bản

Cơ hội này phù hợp với doanh nghiệp Nhật Bản vì thế mạnh của họ rất sát với phần thị trường Việt Nam còn thiếu. Ở các ngách như tái chế bao bì nhiều lớp, xử lý rác điện tử an toàn, kiểm soát chất lượng, hệ thống dữ liệu và truy xuất, doanh nghiệp Nhật không cần cạnh tranh bằng chi phí thấp. Điều thị trường cần là độ ổn định, độ tin cậy, hồ sơ kỹ thuật rõ ràng và khả năng vận hành bền bỉ - đúng vào vùng năng lực cốt lõi của doanh nghiệp Nhật.

Ngoài ra, Nhật Bản còn có lợi thế về phía cầu. Các khảo sát của JBIC cho thấy tỷ lệ doanh nghiệp sản xuất Nhật triển khai sáng kiến bền vững ở nước ngoài đã ở mức cao, trong đó giảm phát thải và thích ứng với áp lực ESG là chủ đề nổi bật. Điều đó cho thấy phía Nhật không chỉ có nhà cung cấp công nghệ, mà còn có nhu cầu nội bộ ngày càng rõ đối với những dự án tuần hoàn có thể đo lường và chứng minh tác động môi trường (JBIC, 2025).

Một điểm thuận lợi khác là doanh nghiệp Nhật đã bắt đầu có chỗ đứng ban đầu tại Việt Nam nhưng thị trường vẫn còn ở giai đoạn sớm. Điều đó có nghĩa là lợi thế người đi trước vẫn còn giá trị: ai vào sớm có thể cùng đối tác địa phương xây dựng dữ liệu nền, định hình chuẩn vận hành và thiết lập quan hệ dài hạn với PRO Vietnam, khu công nghiệp, chủ thương hiệu và các doanh nghiệp điện tử hạt nhân (PRO Vietnam, 2024; B&Company, 2024).

Bảng 6. Bối cảnh Nhật Bản - nhu cầu, năng lực và mức độ phù hợp với mô hình EPR

Chỉ tiêu bối cảnh Nhật Bản 

Giá trị 

Hàm ý đối với nhà đầu tư 

DN sản xuất Nhật coi 
ứng phó khí hậu là ưu tiên 

75% 

Nhu cầu nội bộ với dự án giảm phát thải và tuần hoàn đang tăng 

DN triển khai sáng kiến bền vững ở nước ngoài 

> 60% 

Dự án tại Việt Nam dễ gắn với mục tiêu ESG toàn cầu 

Thế mạnh công nghệ của doanh nghiệp Nhật 

Cao 

Phù hợp tái chế khó, rác điện tử và kiểm soát chất lượng 

Hình thức vào thị trường phù hợp 

Pilot/liên doanh 
chọn lọc 

Giảm rủi ro thực thi và học nhanh cùng đối tác Việt Nam 

Địa bàn ưu tiên 

Phía Bắc điện tử; 
phía Nam FMCG 

Dễ gom đầu vào, gần khách hàng và cụm sản xuất 

Nguồn: JBIC (2025), JOI (2023), PRO Vietnam (2024), B&Company (2024).

5. Điều kiện thành công và rủi ro cần lưu ý

Muốn vào thị trường này thành công, điều đầu tiên là phải chọn đúng ngách và đúng địa bàn. Đây không phải là thị trường phù hợp với chiến lược "đánh rộng" ngay từ đầu. Với nhựa bao bì, cần gắn nhà máy hoặc hub tái chế với nơi tập trung dòng rác đủ lớn và tương đối đồng nhất - ví dụ vành đai công nghiệp, khu vực quanh nhà máy đồ uống, sữa, mì ăn liền và hệ thống bán lẻ lớn. Với rác điện tử, ưu tiên các cụm điện tử như Bắc Ninh, Thái Nguyên và Hải Phòng.

Rủi ro lớn nhất hiện nay là rủi ro chính sách và thực thi. Dự thảo nghị định EPR riêng vẫn đang trong quá trình hoàn thiện; tiêu chí, lộ trình tăng tỷ lệ tái chế và cách thức giám sát có thể còn tiếp tục điều chỉnh. Nói cách khác, định hướng đã rõ, nhưng doanh nghiệp vẫn cần theo sát diễn biến pháp lý và xây mô hình đủ linh hoạt để thích nghi (Vietnam Law Magazine, 2025; Ministry of Agriculture and Environment, 2025).

Rủi ro thứ hai là cạnh tranh với khu vực phi chính thức. Trong cả nhựa và rác điện tử, mạng lưới thu gom phi chính thức hiện vẫn rất linh hoạt và chi phí thấp, nhưng lại thiếu chuẩn môi trường, thiếu dữ liệu và khó tích hợp vào hệ thống báo cáo chính quy. Do đó, nhà đầu tư không nên giả định rằng chỉ cần có công nghệ tốt là có thể thay thế ngay chuỗi thu gom hiện hữu.

Rủi ro thứ ba là dữ liệu và minh bạch đầu vào. Thiếu số liệu chi tiết theo địa bàn, theo chủng loại bao bì và theo dòng rác điện tử khiến việc dựng mô hình tài chính, chốt công suất và chứng minh hiệu quả môi trường - kinh tế cần thêm giai đoạn khảo sát thực địa. Vì vậy, doanh nghiệp muốn vào thị trường này thành công cần coi dữ liệu đầu vào là tài sản thương mại, không phải phần việc hành chính.

Bảng 7. Lăng kính địa phương: nơi nên ưu tiên cho pilot hoặc liên doanh giai đoạn đầu

Tỉnh / vùng 

Vai trò trong hệ sinh thái 

Điểm mạnh chính 

Điểm hạn chế 

Đối tác gợi ý 

Phù hợp 
pilot/JV 

Bắc Ninh 

Trọng điểm điện tử phía Bắc 

Mật độ OEM điện tử cao, 
gần Hà Nội 

Quỹ đất và cấp phép môi trường 
cần chọn lọc 

KCN, OEM, 
đối tác thu gom 

★★★★★ 

Thái Nguyên 

Cụm sản xuất thiết bị điện tử 

Quy mô thiết bị đầu cuối lớn, 
phù hợp tháo dỡ - phân loại 

Chuỗi thu gom chính quy 
còn phải xây thêm 

OEM, KCN, 
địa phương 

★★★★☆ 

Hải Phòng 

Cảng - sản xuất-logistics 

Gần cảng, thuận lợi logistics 
và xuất vật liệu tái chế 

Cạnh tranh đất công nghiệp 
ở mức cao 

KCN, cảng, 
logistics 

★★★★☆ 

TP.HCM - 
Bình Dương - 
Đồng Nai 

Vành đai FMCG và bán lẻ phía Nam 

Dòng bao bì tiêu dùng lớn, 
nhiều nhà máy và siêu thị 

Dòng rác phân tán, 
phụ thuộc mạng thu gom 

FMCG, bán lẻ, 
PRO Vietnam 

★★★★★ 

Nguồn: B&Company (2024), Vietnam News/GSO (2025), PRO Vietnam (2024).

6. Hàm ý chiến lược và bước đi đề xuất cho doanh nghiệp Nhật Bản

Hàm ý chiến lược quan trọng nhất là doanh nghiệp Nhật không nên vào thị trường này bằng một dự án vốn lớn ngay từ đầu, mà nên đi bằng một điểm chạm đủ hẹp để kiểm chứng mô hình nhưng đủ sâu để tạo vị thế. Tổ hợp mô hình đáng ưu tiên nhất hiện nay là: nền tảng tuân thủ EPR số + dự án tái chế khó hoặc xử lý rác điện tử có đối tác địa phương + dịch vụ tư vấn/MRV hỗ trợ khách hàng. Ba lớp này bổ trợ cho nhau: nền tảng số tạo dữ liệu, tài sản vật chất tạo năng lực thực thi, còn dịch vụ tư vấn giúp mở rộng hệ sinh thái.

Về địa lý, giai đoạn pilot nên ưu tiên hai trục. Trục một là Bắc Ninh - Thái Nguyên - Hải Phòng, nơi tập trung điện tử và thuận lợi cho mô hình rác điện tử chính quy. Trục hai là TP.HCM - Bình Dương - Đồng Nai, nơi bao bì tiêu dùng, bán lẻ và FMCG tạo ra nguồn đầu vào phù hợp cho mô hình thu gom - phân loại - tái chế. Sau khi pilot vận hành ổn, doanh nghiệp có thể mở rộng sang các tỉnh lân cận để đạt quy mô vùng.

Trong 60 - 90 ngày đầu, thứ tự ưu tiên hợp lý nên là: (1) chọn rõ ngách vào thị trường - bao bì nhiều lớp, nền tảng EPR hay rác điện tử; (2) lập bản đồ đối tác địa phương gồm PRO Vietnam, chủ thương hiệu, khu công nghiệp và đơn vị có giấy phép môi trường; (3) chốt bài toán dữ liệu đầu vào, sản lượng thử nghiệm và tiêu chí chất lượng đầu ra; (4) thiết kế mô hình hợp tác dưới dạng dự án thử nghiệm hoặc liên doanh có lộ trình tăng công suất; và (5) chuẩn bị hồ sơ tuân thủ để bám sát các thay đổi của nghị định EPR riêng.

Nhìn tổng thể, kinh tế tuần hoàn và EPR tại Việt Nam là một thị trường rất đáng theo dõi vì cơ hội nằm ở phần hệ thống còn thiếu hơn là ở phần xử lý rác phổ thông. Ai giải được đồng thời ba bài toán - công nghệ, dữ liệu và đối tác thực thi - trước, người đó có khả năng giữ vị trí trung tâm trong chuỗi giá trị tuần hoàn mới của Việt Nam.

 

 

Danh mục tài liệu tham khảo

  1. Baker McKenzie. (2022, March 19). Vietnam: New extended producer responsibility regime - recycling obligations. https://www.globalcompliancenews.com/2022/03/19/vietnam-new-extended-producer-responsibility-regime090322/

  1. ERIA RKCMPD. (n.d.). Extended Producer Responsibility (EPR) for Plastics and Packaging - Viet Nam. https://rkcmpd-eria.org/extended-producer-responsibility/legal-framework/viet-nam

  1. Vietnam Law Magazine. (2025). Draft decree on EPR to help promote the circular economy. https://vietnamlawmagazine.vn/draft-decree-on-epr-to-help-promote-the-circular-economy-74289.html

  1. ERIA. (2023). Chapter 17: Circular Economy in Viet Nam. https://www.eria.org/uploads/media/Books/2023-VietNam-2045/21_ch.17-Circular-Economy.pdf

  1. Vietnam Circular Economy Hub. (2025, January 23). Viet Nam Approves National Action Plan for Circular Economy. https://vietnamcirculareconomy.vn/policy-library/viet-nam-approves-national-action-plan-for-circular-economy/?lang=en

  1. IFC. (2021). Managing Plastic as a Valuable Resource Will Help Address Marine Pollution, Promote a Circular Economy in Vietnam. https://www.ifc.org/en/pressroom/2021/managing-plastic-as-a-valuable-resource-will-help-address-marine-pollution-promote-a-circular-economy-in-vietnam-world-bank-group-report

  1. World Bank. (2021). Market Study for Vietnam: Plastics Circularity Opportunities and Barriers. https://www.worldbank.org/en/country/vietnam/publication/market-study-for-vietnam-plastics-circularity-opportunities-and-barriers

  1. NGO Resource Centre. (2022). Vietnam becomes major plastic waste generator worldwide: WB. https://www.ngocentre.org.vn/news/vietnam-becomes-major-plastic-waste-generator-worldwide-wb

  1. PRO Vietnam / VnEconomy. (2024). PRO Vietnam pledges to recycle 64,000 tons of packaging materials in 2024. https://en.vneconomy.vn/pro-vietnam-pledges-to-recycle-64-000-tons-of-packaging-materials-in-2024.htm

  1. PRO Vietnam. (n.d.). PRO Vietnam supports and promotes effective and sustainable EPR implementation for businesses. https://provietnam.com.vn/en/news/pro-vietnam-supports-and-promotes-effective-and-sustainable-epr-implementation-for-businesses/

  1. Vietnam Environment Administration. (2022). Circular 02/2022/TT-BTNMT detailing the implementation of several articles of the 2020 Law on Environmental Protection. https://vea.mae.gov.vn/law-on-environmental-protection/12258/circular-02-2022-tt-btnmt-detailing-the-implementation-of-several-articles-of-the-2020-law-on-enviro

  1. UNCRD. (2022). Achieving Circular Economy for the E-Waste Sector in Viet Nam. https://uncrd.un.org/sites/uncrd.un.org/files/12th3r_cp-viet-nam.pdf

  1. Nghiên cứu Khoa học và Phát triển. (2023). Overview of policies and technologies for e-waste recycling in Vietnam. https://nghiencuukhoahocvaphattrien.edu.vn/storage/articles/HWtmo5R9qgq22XpPyntpDqMjAtEtcJjWdic0B30k.pdf

  1. B&Company. (2024). Computer & Electronics Manufacturing in Vietnam: Overview of companies and foreign investment trends. https://b-company.jp/computer-electronics-manufacturing-in-vietnam-overview-of-companies-and-foreign-investment-trends/

  1. Vietnam News / GSO. (2025). Electronics industry booms in 2024 with record export turnover. https://vietnamnews.vn/economy/1691325/electronics-industry-booms-in-2024-with-record-export-turnover.html

  1. Ministry of Agriculture and Environment. (2025). Vietnam moves to strengthen legal framework for extended producer responsibility. https://en.mae.gov.vn/vietnam-moves-to-strengthen-legal-framework-for-extended-producer-responsibility-9037.htm

  1. JOI. (2023). JBIC survey summary on sustainability and decarbonization priorities of Japanese manufacturers. https://www.joi.or.jp/wp-content/uploads/2023/05/Mag_202305_13_spotJBIC-FDI_en.pdf

  1. JBIC. (2025). Survey Report on Overseas Business Operations by Japanese Manufacturing Companies. https://www.jbic.go.jp/en/information/press/press-2025/image/000014411.pdf